Vượt ra khỏi định luật của Metcalfe về hiệu ứng Network, và hướng tới mô hình tốt hơn

Sau đây là một đoạn trích từ cuốn sách "The Cold Start Problem: How to Start and Scale Network Effect" của Andrew Chen

Luật Metcalfe là một khái niệm được sử dụng trong mạng máy tính và viễn thông để đại diện cho giá trị của một mạng. Luật Metcalfe khẳng định rằng tác động của mạng là bình phương của số nút trong mạng. Ví dụ, nếu một mạng lưới có 10 nút, giá trị vốn có của nó là 100 (10 * 10). Các nút cuối cùng có thể máy tính, máy chủ và / hoặc người sử dụng kết nối.

Ban đầu được hình thành những năm thập niên 1980 bởi người tiên phong về lĩnh vực computer networking Robert (Bob) Metcalfe, học thuyết này xác định giá trị của mạng là một hàm toán học dựa trên số lượng thiết bị được kết nối – máy fax, điện thoại, v.v. – vì nó ban đầu được rút ra từ kinh nghiệm của anh ấy khi bán Ethernet. Cuối những năm thập niên 1990, nó trở nên phổ biến trong việc định nghĩa các công ty khởi nghiệp dot-com internet mới và đánh dấu việc định giá, cho thấy rằng giá trị của những công ty khởi nghiệp đó sẽ bùng nổ nếu một người mua nó sớm.

Nhưng tại sao Metcalfe's Law lại áp dụng để xây dựng nên internet website? Chẳng hạn, cách chúng ta nghĩ về người mua và bán trên eBay – liệu họ có giống như những "thiết bị giao tiếp tương thích"? Liệu eBay có giống công nghệ computer networking như Ethernet? Nhưng với sự bùng nổ của dot-com, điều đó không thành vấn đề – định luật này được xem như giá trị của website phát triển phi tuyến tính khi nó thêm người dùng, trở thành phần cơ bản của cuộc tranh luận.

Metcalfe's Law vẫn tồn tại cho đến nay trong các cuộc tranh luận về hiệu ứng mạng, nhưng điều đó là chưa đủ với người trong ngành – những người tìm cách tạo ra, mở rộng quy mô và cạnh tranh bắng cách tận dụng sức mạnh này. Chắc chắn không dành cho giám đốc sản phẩm, kỹ sư, designer, giám đốc điều hành – những người mà cần vạch ra chiến lược xung quanh hiệu ứng mạng vào lộ trình sắp tới của họ!

1. Từ định luật Metcalfe tới định luật Meerkat

Bất cứ ai đã từng built một sản phẩm network từ đầu sẽ cho bạn biết Metcalfe's Law không liên quan một chút nào. Metcalfe's Law bỏ sót các giai đoạn quan trọng của việc xây dựng network, chẳng hạn như những gì bạn làm ngay từ đầu khi không có ai sử dụng sản phẩm của bạn.

Nó cũng không xem xét chất lượng tương tác của người dùng và tính đa chiều của network – người mua và người bán. Cũng không có sự khác biệt giữa "active user" so với những người chỉ vừa đăng ký, hoặc trải nghiệm sản phẩm bị xuống cấp vì quá tải người dùng trên mạng. Điều này vượt xa khỏi mô hình cơ bản "more nodes is better"; Metcalfe's Law đã thất bại trong thực tế. Vậy điều gì tốt hơn?

Bắt đầu từ nghiên cứu về loài meerkat (chồn đất) – Bạn có thể đã nhìn thấy một lần, Timon, trong bộ phim Lion King, cùng với người bạn của anh ta là chú lợn rừng Pumbaa. Chồn đất là loài động vật ở miền nam châu Phi, và khi chúng sống thành bầy 30-50 con, chúng được gọi là "mob" hoặc "gang". Chúng thích ra ngoài theo bầy vì nếu một trong số chúng thấy sự xuất hiện của loài săn mồi, chúng sẽ đứng lên bằng hai chân sau và phát ra tín hiệu báo động để cảnh báo đồng loại. Chúng sẽ sủa hoặc huýt sáo để ra ám hiệu nếu có kẻ săn mồi trên không hoặc trên cạn đang gần đó; và kẻ săn mồi đó có mức độ nguy hiểm thấp, trung bình hoặc cao ... giúp giữ an toàn cho cả bầy.

Timon trong phim hoạt hình Vua Sư Tử

Có rất nhiều loài tập tính bầy đàn như vậy – như chồn đất, cá mòi, ong, và chim cánh cụt – lợi ích đó bằng cách sống cùng nhau, cho dù là chống lại kẻ săn mồi hay phối hợp đi tìm bạn tình. "Càng nhiều node trong network càng tốt".

Tuy nhiên, nếu vì bất kỳ lý do gì mà số lượng những loài động vật này giảm sút, thì lợi ích có thể nhanh chóng mất đi, khiến chúng dễ bị sụp đổ. Nhưng nếu quần thể phát triển quá nhanh, sống trong một phạm vi nhỏ, số lượng quá đông sẽ phủ định hoàn toàn lợi thế – điều này sẽ khiến số lượng giảm dần.

Allee Threshold

Điều này trở thành khái niệm quan trọng trong sinh học vì nó là nó đưa ra một đặc điểm – gọi là "ngưỡng Allee" – nơi mà các loài động vật sẽ an toàn hơn và phát triển nhanh hơn trong quần thể : hiệu ứng mạng sinh thái học.

Khi không đủ số lượng trong đàn để cảnh báo nguy hiểm cho nhau, khả năng cao sẽ có cá thể bị bắt bởi kẻ săn mồi. Sau đó, như một vòng tuần hoàn, vì với ít cá thể hơn, khả năng tự bảo vệ mình kém hơn, dẫn tới quần thể ngày càng nhỏ hơn.

Một quần thể động vật có xu hướng giảm về 0 nếu không đáp ứng nổi ngưỡng Allee

Phép ẩn dụ về sản phẩm công nghệ ở đây là: Nếu một ứng dụng nhắn tin không có đủ lượng người dùng trong đó, một số người sẽ xóa nó. Và khi cơ sở người dùng thu hẹp, khả năng cao mỗi người dùng sẽ rời bỏ, cuối cùng gây ra tình trạng không hoạt động và mạng bị sụp đổ. (Đó là điều đã xảy ra đối với MySpace khi Facebook sinh ra và lấy đi lượng người dùng của nó, hay như người tiêu dùng và nhà phát triển app rời BlackBerry để chuyển sang Smartphone của Google hay Apple).

Mặt khác, điều gì sẽ xảy ra khi chồn đất tiếp tục phát triển tốt? Chúng sẽ tiếp tục phát triển, sinh sản và tạo ra nhiều bầy đàn hơn. Nếu chúng vượt ngưỡng Allee, số lượng quần thể sẽ tiếp tục tăng, vì quần thể đã lớn mạnh và được bảo vệ. Nhiều chồn đất hơn thì sinh sản nhiều hơn, và nếu những kẻ săn mồi bắt được một hoặc hai con, miễn là tổng thể vẫn ở mức cao, nó vẫn sẽ tiếp tục phát triển.

Nhưng điều đó không thể tồn tại mãi, bởi vì tài nguyên – như là những loại bọ hoặc trái cây ưa thích của chồn đất – chỉ đủ cho số lượng hữu hạn. Đi cùng sự phát triển dân số, cuối cùng sẽ đến một giới hạn tự nhiên dựa theo môi trường, thường được gọi là "Carrying Capacity" –  khả năng chịu đựng của môi trường. Với những loài vật xã hội như chồn đất và cá vàng, việc cá thể quá đông đạt điểm giới hạn trước khi vượt ngưỡng Allee, và sau đó bão hòa/ vượt sức chịu đựng của môi trường trước khi sụt giảm:

Phát triển vượt ngưỡng Allee
Chạm đến ngưỡng chịu được của môi trường khi số lượng phát triển quá đông

Hiệu ứng network tương tự ở đây là trong ngành công nghệ xảy ra khi có quá nhiều người dùng gây ra "quá tải": Đối với các ứng dụng giao tiếp, bạn bắt đầu nhận được quá nhiều tin nhắn. Với những sản phẩm xã hội, có quá nhiều nội dung trong nguồn cấp.

Nếu bạn không cài tính năng phát hiện spam, thuật toán hay những thứ khác, network sẽ nhanh chóng không dùng được. Nhưng nếu thêm các tính năng phù hợp để hỗ trợ khám phá, chống lại thư rác, tăng mức độ liên quan trong giao diện người dùng, bạn có thể cái thiện "carrying capacity" cho người dùng.

2. Cách network có thể giảm tải và thu gọn

Những vấn đề này lần đầu được mô tả vào những năm 1930 bởi Warder Clyde Allee (tên gọi của đường cong và ngưỡng Allee), giáo sư tại Đại học Chicago và là người tiên phong ngành Sinh thái học của Hoa Kỳ. Tài liệu của ông ấy cùng Edith Bowen, "Studies in animal aggregations: Mass protection against colloidal silver among goldfishes", chỉ ra rằng cá vàng phát triển nhanh hơn và có thể chống lại độc tính trong nước khi chúng sống theo bầy. Cũng giống như chim sống theo đàn để gây khó khăn cho kẻ săn mồi nhằm chống lại chúng, chồn đất sống theo bầy để cảnh báo nguy hiểm với đồng loại, cá vàng cũng có cơ chế tương tự.

Đường cong Allee hữu dụng trong cách network có thể giảm tải và thu gọn: Vượt qua được "ngưỡng Allee" rất quan trọng để cho các quần thể động vật có thể chuyển từ mức tăng trưởng thấp thành quần thể tự duy trì. Ví dụ, khi bạn thu hoạch cá mòi, bạn đã đẩy chúng xuống dưới ngưỡng Allee.

GIảm thiểu trở về ngưỡng Allee

Tương tự: Tại sao ta dùng một ứng dụng tin nhắn nếu không ai trong số bạn của mình dùng nó?

Khi tôi đứng trước trụ sở Uber ở San Francisco, cố gắng hình dung việc thêm nhiều tài xế vào một thành phố sẽ thay đổi trải nghiệm người đi xe như nào, ý tưởng của giáo sư Allee hiện ra trong đầu tôi; càng nghĩ về nó, một đường cong quen thuộc càng hiện ra:

Tỷ lệ chuyển đổi của Uber dựa trên số lượng tài xế

Khi có ít tài xế trong một thành phố, mất nhiều thời gian hơn để bắt xe (ETA cao - Estimated time of arrival : thời gian xuất phát dự kiến). Do đó, tỷ lệ chuyển đổi thấp, vì làm gì có ai sẵn sàng bỏ ra 30 phút để đợi một chuyến xe? Vậy cho đến tận khi bạn có vài trăm tài xế, thì giá trị đối với người dùng vẫn sẽ gần như bằng 0 (và các tài xế cũng sẽ không gắn kết cùng nhau, do đó, khiến cho toàn bộ hệ thống sụp đổ).

Một khi bạn thoát khỏi giới hạn này, ứng dụng có thể vẫn hơi bất tiện nhưng vẫn dùng được, giảm thời gian xuống 10 hoặc 5 phút. Mạng lưới tài xế càng lớn, sự thuận tiện càng cao. Nhưng cuối cùng, giá trị của các network ổn định – hiệu suất của chúng sẽ giảm dần khi có nhiều tài xế hơn, nhưng điều đó cũng chẳng quá quan trọng nếu bạn có thể tiết kiệm được 4 phút so với 2 phút hay so với việc có xe ngay lập tức. Sự thực, cũng có sự bất tiện, vì bạn cần một chút thời gian để lấy chìa khóa và ra khỏi cửa để gặp tài xế của mình.

Bài toán về loài chồn đất ảnh hưởng tới các loài động vật xã hội cũng áp dụng cho chúng ta. Sau cùng, con người cũng là một loài động vật xã hội, kết nối với những người khác bằng cách chia sẻ các bức ảnh, bán các bộ sưu tập giày, chia sẻ dự án công việc và chia nhỏ chi phí bữa tối. Thay vì săn bắn và giao phối, network của chúng ta giúp chúng ta đi mua hàng và hẹn hò.

Cũng giống như mạng xã hội cần một lượng người tối thiểu để trở nên hấp dẫn, một bầy chồn đất cũng vậy. Cũng giống như một ứng dụng tin nhắn sẽ phát triển nhưng cuối cùng sẽ làm bão hòa thị trường của nó, thì sự phát triển của động vật cũng sẽ chậm lại khi chúng bắt đầu sinh sống quá mức trong môi trường sống.

Mặc dù các thuật ngữ khác nhau, nhưng các khái niệm cốt lõi và toán học đều giống nhau:

  • Hiệu ứng Allee - hiệu ứng mạng
  • Ngưỡng Allee - điểm giới hạn
  • Khả năng chịu đựng - mức bão hòa

Tôi có thể sử dụng từ vựng về kinh doanh – hiệu ứng mạng, điểm giới hạn, mức độ bão hòa thị trường – nhưng tôi tin tưởng những nhà sinh thái học như Giáo sư Allee người đã tạo ra mô hình quần thể động vật, cho hàng thế kỷ, để dự đoán chúng phát triển nhanh như nào, khi chúng trở nên quá đông, và dự đoán các động lực phức tạp của chúng.

Những ý tưởng này cung cấp một nền tảng lý thuyết phong phú hơn so với quan niệm thông thường cho rằng các sản phẩm công nghệ có/ không có hiệu ứng network. Nền công nghiệp công nghệ cần tạo ra bộ từ vựng chi tiết và chính xác hơn để giúp những người xây dựng, chủ doanh nghiệp, hay bất kỳ ai đang tìm hiểu các nền tảng dựa trên hiệu ứng mạng sẽ để đạt đến cấp độ phân tích cao hơn, để các khái niệm và chỉ số cụ thể cuối cùng có thể được gắn với chiến lược sản phẩm. Những gì họ cần là một khuôn khổ thống nhất gắn kết một tập hợp các khái niệm và từ vựng liên quan lại với nhau.

Đừng quên đăng ký Otis Report - Nơi cung cấp và cập nhật nhanh nhất mọi thông tin vĩ mô và phương pháp đầu tư tăng trưởng với giá trị vượt thời gian.

Hãy đăng ký và tham gia các nhóm, channel của Otis Report dưới đây để được thảo luận cùng các chuyên gia và nhiều Otiser khác:

Bạn đã đăng ký thành công Otis Report
Xác minh thành công! Giờ đây, bạn đã có toàn quyền truy cập vào tất cả nội dung cao cấp của Otis Report.
Lỗi! Không thể đăng ký. Liên kết không hợp lệ.
Chào mừng trở lại! Bạn đã đăng nhập thành công.
Lỗi! Không thể đăng nhập. Vui lòng thử lại.
Thành công! Tài khoản của bạn đã được kích hoạt hoàn toàn, bây giờ bạn có quyền truy cập vào tất cả nội dung.
Lỗi! Kiểm tra Stripe thất bại.
Thành công! Thông tin thanh toán của bạn đã được cập nhật.
Lỗi! Cập nhật thông tin thanh toán không thành công.