Ngân hàng Tư nhân nên thay thế Ngân hàng Trung ương phát hành tiền tệ, đặc biệt ở các nước kém phát triển

"Sự kém hiệu quả liên quan đến chính phủ độc quyền về tiền tệ đặc biệt lớn ở các nước đang phát triển, nơi mà độ tin cậy của tỷ giá (một khía cạnh quan trọng của chất lượng tiền tệ) thường khá thấp."

Ở mọi nơi, trừ một số khu vực trên thế giới ngày nay (Bắc Ireland, Scotland, và hiện tại là Hongkong), tiền tệ là nền công nghiệp hóa quốc gia. Bộ ngân khố phát hành tiền kim loại, các doanh nghiệp nhà nước được gọi là Ngân hàng Trung ương phát hành tiền giấy. Điều đó không phải luôn luôn là như vậy. Ngân hàng tư nhân là nơi phát hành chính của tiền giấy ở Hoa Kỳ và Canada một thế kỷ trước, và là nhà phát hành duy nhất ở hầu hết mọi quốc gia hai thế kỷ trước.

Việc quốc hữu hóa tiền tệ phần lớn được coi là đương nhiên ngày nay, nhưng không nên như vậy. Adam Smith ca ngợi tiền tệ tư nhân vì những lợi ích mà nó mang lại cho quê hương Scotland của ông. Hầu hết các nhà kinh tế học sẽ đồng tình rằng sự độc quyền của chính phủ được thực thi hợp pháp nói chung là một cách kém hiệu quả để sản xuất hàng hóa và dịch vụ tư nhân. Bưu điện là ví dụ điển hình, các ví dụ khác bao gồm từ các đồn điền nhà nước sở hữu đến các tuyến đường sắt quốc gia. Tiền tệ không có quy tắc ngoại lệ. Cũng như các sản phẩm khác được quốc hữu hóa, chất lượng ở khối nhà nước luôn thấp hơn so với tư nhân. Sự kém hiệu quả với các chính phủ độc quyền trong vấn đề tiền tệ đặc biệt lớn ở các nước đang phát triển, nơi mà độ tin cậy của tỷ giá (Một khía cạnh quan trọng của chất lượng tiền tệ) thường khá thấp.

1. Vấn đề về độ tin cậy của Ngân hàng Trung ương

Một khía cạnh chất lượng quan trọng của tiền tệ chính là độ tin cậy của "cam kết mua lại" - cụ thể là, lời hứa của nhà phát hành sẽ đổi lấy nó lấy một khoản tiền khác dựa trên một tỷ giá cụ thể. Ở các nước đang phát triển, nội tệ có giá trị nhờ khả năng quy đổi ở một tỷ giá cố định với đồng USD. Trong phạm vi mà Ngân hàng Trung ương thực sự tôn trọng thỏa thuận này, tỷ giá hối đoái luôn cố định trong một giới hạn cho phép và do đó giúp tránh lạm phát cao, điều mà các chế độ tài chính ở các nước đang phát triển thường không đủ sức làm được. Sự sụt giá nghiêm trọng ở Đông Nam Á năm 1997 cho thấy mức độ không đáng tin cậy từ các cam kết mua lại của các ngân hàng trung ương ở các nước đang phát triển.

Các ngân hàng thương mại tư nhân thì đáng tin cậy hơn. Việc tư nhân hóa tiền tệ có nghĩa là giao nó cho các ngân hàng thương mại để phát hành phương tiện trao đổi, được xác nhận quyền sở hữu tài sản dự trữ xác định tiêu chuẩn tiền tệ và làm cho việc thực thi các tuyên bố này là vấn đề của luật thương mại chứ không phải của chính sách công. Nó phân cấp tương ứng trách nhiệm nắm giữ các khoản dự trữ thích hợp. Bên ngoài "chủ nghĩa tư bản thân hữu" (nơi các ngân hàng tư nhân trên danh nghĩa nhận được ưu đãi đặc biệt để gia hạn hợp đồng), các tổ chức phát hành tiền tệ tư nhân phải đối mặt với các biện pháp kiểm soát chất lượng mà không phải đối mặt với các tổ chức phát hành độc quyền của chính phủ.

Điểm yếu chính của các Ngân hàng Trung ương với tư cách là tổ chức phát hành tiền tệ, là sự bất tài trong việc tự ràng buộc mình với những lời hứa mua lại của họ. Vị thế độc quyền công khai giúp họ miễn trừ khỏi các biện pháp trừng phạt của luật pháp và thị trường mà thường ngăn cản các ngân hàng thương mại tái thực hiện các cam kết để hoàn thành các khoản nợ của họ. Ngân hàng Trung ương được hưởng "quyền miễn trừ có chủ quyền" khỏi các vụ kiện của người yêu cầu bồi thường, và các hạn chế pháp lý đối với sự lựa chọn của công chúng về tiền tệ. Điều đó có nghĩa là Ngân hàng Trung ương ít sợ mất khách vì hành vi xấu. Đồng thời, các Ngân hàng Trung ương - đặc biệt ở các nước đang phát triển - đối mặt với áp lực chính trị để cung cấp những lợi ích ngắn hạn mà việc mở rộng tiền tệ bất ngờ có thể mang lại (cụ thể là tăng thêm thu nhập để thanh toán các hóa đơn của chính phủ, thêm kích thích cho nền kinh tế hoặc thêm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng). Khi việc này tương đối ít tốn kém, các Ngân hàng Trung ương bị cám dỗ tham gia vào các chính sách tiền tệ mở rộng mà cuối cùng buộc phải phá giá.

Ngược lại, các chủ ngân hàng thương mại tư nhân có thể bị khách hàng của họ kiện, khi không thực hiện các nghĩa vụ quy đổi ngang giá ngoại hối. Ngay cả khi ngân hàng tư nhân có thể phá giá các khoản nợ của mình (trả ít hơn 100 cents trên 1 đô la) mà không bị trừng phạt về mặt pháp lý, thì việc phá giá như vậy sẽ giáng một đòn mạnh vào danh tiếng của ngân hàng đó, và trong một môi trường cạnh tranh, tập khách hàng của nó sẽ đi nơi khác. Các cổ đông sẽ bị lỗ. Sự khuyến khích của các cổ đông để tránh phá giá hoặc vỡ nợ, buộc họ phải hạn chế khối lượng nợ phải trả của ngân hàng, và làm cho các cam kết mua lại của ngân hàng trở nên đáng tin cậy. Một hình phạt lớn đối với việc phá giá có nghĩa là ngân hàng tư nhân sẽ ít có động lực phá giá đồng tiền mà họ phát hành hơn so với một Ngân hàng Trung ương. Sự phá giá của Ngân hàng Trung ương xảy ra thường xuyên hơn các vụ vỡ nợ ngân hàng thương mại tư nhân.

Vậy hệ thống tiền tệ tư sẽ như nào? Như ở Scotland và Bắc Ireland hiện nay, các ngân hàng trong nước sẽ phát hành tiền giấy lưu hành có mệnh giá và có thể đổi trực tiếp thành tài sản ngoại tệ (chứng nợ của Ngân hàng Trung ương Anh)[1]. Mỗi tờ tiền rõ ràng sẽ mang tên của ngân hàng phát hành sẽ có trách nhiệm pháp lý. Bất kỳ ngân hàng nào cố gắng phát hành quá nhiều tiền giấy sẽ thấy chúng được gửi vào các ngân hàng khác, và trở lại thông qua hệ thống thanh toán bù trừ để đổi thành tiền dự trữ.


  1. Các ngân hàng tư nhân giữ quyền phát hành tiền giấy bạc ở Scotland và Bắc Ireland ngày nay phải đối mặt với tỷ lệ dự trữ bắt buộc biên ràng buộc là 100% ngoài một vấn đề "không được che đậy" cụ thể. Điều này rõ ràng có xu hướng làm suy yếu sự tranh đối với khách hàng ghi chép. ↩︎

Ở nhiều quốc gia đang phát triển, nơi chúng ta quan sát thấy tình trạng đô la hóa không chính thức của các giao dịch trên cả thị trường tài chính và thị trường hàng hóa, đô la Mỹ là sự lựa chọn có vẻ phù hợp của thị trường cho đồng tiền dự trữ. Ở đó dân chúng rõ ràng thích đồng đô la hơn nội tệ. Tiền tệ Ngân hàng Trung ương nội địa, đã thất bại trong bài kiểm tra của thị trường, tồn tại nhờ vào các hạn chế pháp lý bắt buộc các giao dịch viên trong nước phải chấp nhận và sử dụng tiền tệ của nó cho một số mục đích. Loại bỏ các hạn chế đó, và các ngân hàng hàng đầu trong nước và quốc tế sẽ cung cấp tiền mệnh giá bằng đô la giống như hiện nay họ cung cấp séc du lịch.

Một phản đối phổ biến đối với đô la hóa là nó chuyển thành lợi nhuận từ phát hành tiền tệ, cho chính phủ Hoa Kỳ. Điều đó chỉ đúng nếu tiền giấy của Cục Dự trữ Liên bang được sử dụng làm tiền tệ, như ở Panama ngày nay. Điều đó sẽ không đúng nếu các ngân hàng thương mại được cho phép phát hành tiền giấy. Dưới sự phát hành tiền giấy cạnh tranh, tiền lưu trữ chỉ được chuyển đến Hoa Kỳ trong phạm vi (có lẽ rất nhỏ, trừ khi chính phủ trong nước áp đặt tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao) mà các ngân hàng nắm giữ tiền giấy dự trữ của Cục Dự trữ Liên bang. Phần lớn tiền lữu trữ tiềm năng được giữ ở nhà, nơi cạnh tranh giữa các ngân hàng sẽ phân phối nó cho những người nắm giữ tiền tệ dưới dạng các dịch vụ ngân hàng không định giá. Ví dụ, ở Bắc Ireland, sự cạnh tranh của các ngân hàng phát hành có thể tìm khách bằng cách miễn phí rút tiền từ các máy rút tiền tự động được phân phối rộng rãi của họ[1].


  1. Tích trữ các máy ATM với giấy bạc sở hữu của mình là một thiết bị không cạnh tranh mà ngân hàng có thể sử dụng để khiến công chúng ưa thích đồng tiền dự trữ mà họ có thể mua lại. Nói cách khác là làm cho chúng trở nên hấp dẫn hơn về mặt vật lý và giảm nguy cơ bị làm giả. Cạnh tranh về giá (lợi tức) dường như được loại trừ về mặt kinh tế bởi chi phí giao dịch: thu nhập tiền lãi tiềm năng là nhỏ so với sự thuận tiện hơn của việc có một loại tiền tệ có mệnh giá cố định. Về hiệu quả chung của cạnh tranh phi giá trên tiền tệ, xem White and Boudreaux (1986) và (2000). ↩︎

Nếu công dân trong nước muốn có loại tiền chất lượng cao có thể trao đổi được, việc tư nhân hóa phát hành tiền giấy phục vụ họ sẽ tốt hơn so với tỷ giá đồng đô la của Ngân hàng Trung ương. Quy tắc này được áp dụng ở đâu? Có rất ít cơ hội để tư nhân hóa tiền tệ ở một quốc gia được kết hợp với ngân hàng quốc doanh. Dự kiến sẽ ít đạt được chất lượng hơn khi mà các nhà chức trách chính trị đã hạn chế rất nhiều việc tham gia vào lĩnh vực ngân hàng, và đã làm hỏng hệ thống pháp luật nghiêm trọng. Do đó, quy định của chúng tôi áp dụng ngay lập tức ở nhóm các quốc gia có chính sách tiền tệ kém và phá giá nhiều lần, nhưng cũng có (hoặc có thể có) ngân hàng thương mại cạnh tranh theo cơ chế thực thi hợp đồng hiệu quả và pháp quyền. Chủ nghĩa kinh nghiệm thông thường cho rằng đây không phải là một tập hợp rỗng. Các quốc gia như vậy được tìm thấy ở Trung và Đông Âu, Châu Mỹ Latinh, Châu Phi và Châu Á.

Ở một vài nước lý do quan trọng nhất khiến đồng tiền không đáng tin cậy là do các cơ quan quản lý tài chính phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ việc in tiền. Ở một vài nước đang phát triển, nguồn thu từ việc in tiền đã tài trợ 15 đến 20% chi tiêu của nhà nước. Ở quốc gia như vậy, việc đô la hóa và tư nhân hóa phát hành tiền giấy sẽ đòi hỏi phải cải cách tài khóa để cung cấp nguồn thu thay thế hoặc cắt giảm chi tiêu nhà nước. Nền kinh tế chính trị làm thế nào để đảm bảo những cải cách như vậy nằm ngoài phạm vị thảo luận của chúng tôi ở đây. Tuy nhiên, nếu doanh thu thay thế phải được tìm thấy, một nguồn tiềm năng là thuế phát hành tiền giấy tư nhân. Một loại thuế như vậy sẽ ngăn chặn cạnh tranh phi giá trong vấn đề tiền tệ một cách không hiệu quả, nhưng nó sẽ không làm mất uy tín lớn của tiền tệ tư nhân, và nó vẫn sẽ tốt hơn việc quốc hữu hóa.

2. Nhưng không phải tiền tệ tư nhân gây ra vấn đề lớn ở thời tiền chiến của Hoa Kỳ?

Một nguồn gốc quan trọng phản đối ý tưởng yêu cầu các ngân hàng thương mại cung cấp tiền giấy là niềm tin, dựa trên việc đọc một phần lịch sử, rằng loại tiền tệ đó có xu hướng lưu thông với giá thấp hơn mệnh giá của nó và do đó áp đặt chi phí trao đổi đáng kể. Lịch sử của tiền tệ tư nhân ở Scotland, Thụy Điển, Canada và nhiều quốc gia khác cho thấy điều ngược lại. Theo quy định, các loại tiền do ngân hàng phát hành được lưu hành theo mệnh giá.

Kinh nghiệm của Hoa Kỳ trước Nội Chiến, khi kho tiền tệ của Hoa Kỳ chủ yếu bao gồm các tiền giấy được phát hành bởi khoảng 1500 ngân hàng quốc doanh, là ngoại lệ chính đối với quy tắc. Thay vì chỉ định mệnh giá đầy đủ, nhiều tờ tiền ngân hàng nhà nước giao dịch ở mức chiết khấu. Các khoản chiết khấu phản ánh chi phí không nhỏ của việc mua lại các tờ tiền để lấy vàng hoặc bạc, và trong một số trường hợp có nguy cơ không đổi được.

Trước khi các nhà sử học kinh tế hiện đại (Hugh Rockoff và những người khác) bắt đầu xem xét lại thời kỳ này, tính toán đặc thù đã đổ lỗi cho việc thiếu sự chấp nhận ngang giá đối với các chính sách ngân hàng "tự do", vốn được cho là đã thúc đẩy hoạt động ngân hàng "liều lĩnh" gian lận. Ngoài ra, như thể hành vi gian lận của chính các nhân viên ngân hàng chưa đủ tệ, những kẻ làm giả được biết là thường xuyên sao chép tiền giấy, khiến các thương gia và người tiêu dùng cần tham khảo các ấn phẩm định kỳ "báo cáo tiền giấy" để biết danh sách của các tờ tiền giả. Các tài khoản cũ đã trích dẫn những vấn đề như vậy để giải thích tại sao các nhà chức trách liên bang cuối cùng đã cấm các ngân hàng tiểu bang phát hành tiền giấy sau tháng 8 năm 1866. Thật không may, những lầm tưởng như vậy vẫn tồn tại.

Trên thực tế, tiền giấy ngân hàng nhà nước gần như không tệ như đã được kê khai, và việc Chính phủ Liên bang đàn áp chúng không thực sự được thúc đẩy bởi những lo ngại về chất lượng. Khi Nội chiến bùng nổ, tiền tệ ngân hàng nhà nước chính là tiêu chuẩn. Nhìn chung, tỷ lệ thất bại giữa các ngân hàng tiền nhiệm không tệ hơn nhiều so với tỷ lệ trong các thời kỳ khác của lịch sử ngân hàng Hoa Kỳ. Một số hệ thống ngân hàng nhà nước đã tạo ra các loại tiền tệ nổi tiếng rủi ro, đặc biệt là trong những năm 1850, nhưng các chính sách tự do không đáng trách (vì chúng không tồn tại) và rất hiếm khi xảy ra gian lận. Nguyên nhân chính dẫn đến những thất bại của ngân hàng là do một chế độ quản lý theo chủ nghĩa can thiệp (theo cách mỉa mai là "ngân hàng tự do") buộc các ngân hàng phải hỗ trợ tiền giấy của họ bằng các trái phiếu nhà nước với mức rủi ro cao.

Ngay từ ban đầu, đúng vậy, ngay cả tiền giấy của các ngân hàng nhà nước tốt hơn đôi khi cũng được giảm giá khi họ đi du lịch xa nhà. Mức chiết khấu trên những tờ tiền này chưa bao giờ quá lớn, và chúng giảm dần theo thời gian với những cải tiến trong giao thông và thông tin liên lạc, đặc biệt là với sự lan rộng của các tuyến đường sắt và điện báo. Vào cuối năm 1863, toàn bộ kho tiền giấy miền bắc, nếu được mua lại và giao dịch đấu thầu hợp pháp tại thị trường New York hoặc Chicago, sẽ có giá trị hơn 99% mệnh giá chính nó.

Lý do tại sao có bất kỳ đợt giảm giá nào không phải do chính phủ thiếu các hạn chế đối với hoạt động ngân hàng, mà ngược lại. Luật tiểu bang nói chung cấm chi nhánh ngân hàng, vì vậy hầu hết tiền giấy chỉ có thể được đổi tại một địa điểm duy nhất. Các khoản chiết khấu chủ yếu phản ánh chi phí hoàn lại tiền giấy đến địa điểm đó để đổi. Liệu các ngân hàng Hoa Kỳ thời tiền nội chiến có thể mở chi nhánh trên toàn quốc, giống như các quốc gia khác (và cuối cùng là ở Hoa Kỳ ngày nay), tiền giấy của họ có thể dễ dàng đổi tại nhiều điểm trên toàn quốc, cho phép chúng lưu hành trên toàn quốc với giá ngang nhau. Sự không đồng nhất của tiền tệ Hoa Kỳ trước nội chiến là một sản phẩm phụ của việc chính phủ can thiệp vào cạnh tranh công khai trong ngân hàng.

Còn vấn đề làm giả? Đúng là có chuyện kẻ gian làm giả tiền giấy của nhiều ngân hàng nhà nước. Khi Ngân hàng nhà nước đổi mẫu mã tiền, họ cũng bắt chước và thay đổi các tờ tiền của Ngân hàng Quốc gia sau này, và ngày nay họ cũng (mặc dù có những tiến bộ công nghệ) để bắt chước và thay đổi Chứng nợ của Cục Dự trữ Liên Bang. Việc làm giả tiền giấy của ngân hàng nhà nước thường ít sinh lời hơn việc làm giả các loại tiền của Ngân hàng Trung ương ngày nay, bởi vì tiền giấy tư nhân không lưu hành lâu dài. Giống như những tấm séc du lịch, sẽ sớm được trả lại cho công ty phát hành. Hàng giả do đó có khả năng bị các chuyên gia phát hiện trong khi dấu vết vẫn còn rõ. Chứng nợ Cục Dự trữ Liên bang ngày nay thường xuyên bị làm giả, nhưng người dùng không (hoặc chưa) có sự lựa chọn để tránh điều đó nhằm có lợi cho các sản phẩm tư nhân thay thế an toàn hơn.

Nếu tiền giấy ngân hàng nhà nước không thực sự tệ như vậy, tại sao chúng lại bị đánh thuế? Để tài trợ cho Nội Chiến, Quốc hội lần đầu trao quyền cho Bộ Ngân khố của Liên minh phát hành trái phiếu Hoa Kỳ trị giá hơn $400 triệu hoặc "đồng bạc xanh". Quốc hội sau đó tiếp tục thành lập một hệ thống mới gồm các ngân hàng có điều lệ liên bang, được phép phát hành thêm $300 triệu tiền giấy của Ngân hàng Quốc gia với điều kiện họ mua trái phiếu liên bang để hỗ trợ. Kho bạc nhận ra rằng tất cả các loại tiền tệ mới này đe dọa gây ra sự tăng giá đáng kể, nhưng không sẵn sàng từ chối những lợi thế tài chính mà đồng tiền mới sẽ cung cấp. Thay vì phát hành ít đồng bạc xanh hơn hoặc hạn chế hơn nữa kho tiền của Ngân hàng Quốc gia, nó đã khiến các ngân hàng nhà nước trở thành vật thế thần, buộc họ phải thu hồi toàn bộ $200 triệu tiền giấy của mình, bao gồm một số loại tiền tốt nhất mà quốc gia này từng biết.

3. Kết luận

Các công ty độc quyền về tiền tệ của ngân hàng trung ương ngày nay đã phát triền không phải từ những nỗ lực khắc phục những thất bại của thị trường mà là từ sự thèm muốn của chính phủ đối với doanh thu. Trái ngược với lời đồn, kinh nghiệm của Hoa Kỳ trong thế kỷ 19 không cung cấp bất kỳ cơ sở nào để hạn chế các ngân hàng tư nhân phát hành tiền tệ. Thay vào đó, nó chỉ ra những hậu quả tai hại những hạn chế của chính phủ đối với tiền tệ do ngân hàng phát hành.

Cũng như để lại việc cung cấp tài khoản séc cho các ngân hàng tư nhân cạnh tranh là hiệu quả, thay vì chỉ có một nhà cung cấp độc quyền của chính phủ đối với các khoản nợ ngân hàng có thể kiểm tra, thì việc tư nhân hóa (lại) vấn đề lưu hành tiền tệ sẽ rất hiệu quả. So với độc quyền công, tư nhân hóa nâng cao chất lượng tiền tệ. Ở các nước đang phát triển, tiền tệ tư nhân đặc biệt có thể cải thiện độ tin cậy của cam kết của các tổ chức phát hành để đổi tiền tệ sang đô la với tỷ giá cố định.

Đừng quên đăng ký Otis Report - Nơi cung cấp và cập nhật nhanh nhất mọi thông tin vĩ mô và phương pháp đầu tư tăng trưởng với giá trị vượt thời gian.

Hãy đăng ký và tham gia các nhóm, channel của Otis Report dưới đây để được thảo luận cùng các chuyên gia và nhiều Otiser khác:

Bạn đã đăng ký thành công Otis Report
Xác minh thành công! Giờ đây, bạn đã có toàn quyền truy cập vào tất cả nội dung cao cấp của Otis Report.
Lỗi! Không thể đăng ký. Liên kết không hợp lệ.
Chào mừng trở lại! Bạn đã đăng nhập thành công.
Lỗi! Không thể đăng nhập. Vui lòng thử lại.
Thành công! Tài khoản của bạn đã được kích hoạt hoàn toàn, bây giờ bạn có quyền truy cập vào tất cả nội dung.
Lỗi! Kiểm tra Stripe thất bại.
Thành công! Thông tin thanh toán của bạn đã được cập nhật.
Lỗi! Cập nhật thông tin thanh toán không thành công.