Sự mở rộng của Ethereum

Sự phát triển của Ethereum đang đạt đến một mức độ hoàn thiện mới. Khoảng cách giữa vị trí hiện tại của Etherum[1] và lộ trình được xác định của nó đang ngày càng được thu hẹp lại.


  1. Ethereum (ETH) là một nền tảng điện toán có tính chất phân tán, công cộng, mã nguồn mở dựa trên công nghệ Blockchain. ↩︎

Hiện nay, khi mà chúng ta đang ở giai đoạn này thì rõ ràng là Ethereum đang phát triển theo một cấu trúc thiết kế dạng module. Các thuộc tính khiến một blockchain thực sự là một blockchain đó là có thể phân biệt và phân chia để cho phép mỗi đặc tính trở nên tối đa hóa sự riêng biệt.

Lý do khiến ETH sẽ cán mốc $20k
ETH có thể chạm mốt $20k trong tương lai hay không? Những luận điểm, dẫn chứng và điều kiện để chúng ta sớm thấy mức tăng trưởng đó.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá làm thế nào Proof of stake[1], sharding và rollup đã kích hoạt blockchain theo thiết kế module, từ đó giúp hiện thực hóa tầm nhìn dài hạn của Ethereum và thiết lập tiêu chuẩn cho blockchain trong tương lai.


  1. Proof-of-Stake (POS) là thuật toán đồng thuận của blockchain. Trong đó, các node phải stake coin để tham gia xác nhận giao dịch trên block. Nói đơn giản thì node phải đặt cọc coin để xác minh danh tính. ↩︎

1. Bộ ba vấn đề của Blockchain

Bộ ba vấn đề nổi tiếng của blockchain quy định rằng bạn chỉ có thể tối ưu hóa cho hai trong ba thuộc tính của một blockchain. Do hạn chế về kỹ thuật nên một trong ba thuộc tính sẽ phải hy sinh để tối ưu hóa cho 2 cái còn lại. Ba thuộc tính đó của blockchain đó là:

  • Khả năng mở rộng - Thông lượng dữ liệu của hệ thống là gì? Có bao nhiêu TPS?
  • Tính phi tập trung - Có bao nhiêu nút node ? Đâu là nơi tập trung quyền lực?
  • Tính bảo mật - Nó khó bị tấn công như thế nào?
Bộ ba vấn đề của blockchain - mỗi cạnh trong hình tam giác chỉ có thể tiếp cận được với 2 thuộc tính

Vậy tại sao lại như vậy? Tại sao các blockchain không thể đạt được đủ tính phi tập trung hóa, tính bảo mật và cả khả năng mở rộng trong một lần? Lý do là bởi các blockchain là nguyên khối, nó cố gắng để giải quyết được cả ba mục tiêu trên chuỗi chính. Tuy nhiên, khi bạn mô-đun hóa các thành phần này, những hạn chế của bộ ba vấn đề blockchain sẽ biến mất.

Tương tự như vậy, hãy nghĩ về sự phân công lao động. Nguyên tắc kinh tế này phân chia một nhiệm vụ phức tạp thành các thành phần nhỏ hơn mà các cá nhân có thể chuyên môn hóa, cho phép toàn bộ hệ thống tạo ra sản lượng nhiều hơn nhiều so với cùng một số lượng công nhân, mỗi người làm việc một cách độc lập.

Vậy mô-đun của blockchain trông như thế nào và nó hoạt động ra sao? Trước khi tìm hiểu, chúng ta cần nắm được ba thành phần của blockchain tạo nên ba thuộc tính được mô tả đã đề cập bên trên.

1.1 Các thành phần của một Blockchain

Tính phi tập trung hóa , khả năng mở rộng và tính bảo mật là tất cả các thuộc tính của một blockchain. Chúng là những đặc điểm mà một blockchain có thể thể hiện nhưng có những sự cấu thành tiềm ẩn mà cấp quyền cho những đặc tính này. Các mô-đun của blockchain chia các thành phần này thành các phần riêng biệt và tối đa hóa chúng. Vậy chúng là gì?

  • Cơ chế Đồng thuận - Cung cấp bảo mật và xác định độ chính xác kiểu mẫu về dữ liệu được lưu trữ trên blockchain. Chúng ta đang ở khối nào? Nội dung của khối 'N' là gì?
  • Tính Thực thi - Những tính toán cần thiết để cập nhật blockchain từ N lên N+1. Lấy trạng thái cũ, thêm một loạt các giao dịch và sau đó chuyển sang trạng thái mới.
  • Tính có sẵn của dữ liệu - Dữ liệu mà L1 đảm bảo có sẵn để được tham chiếu. Tất cả dữ liệu tạo nên 'N'.

Trước khi tìm hiểu sâu hơn, hãy làm quen với những thuật ngữ này bằng cách sử dụng phép so sánh. Tưởng tượng đó là một buổi sáng thứ tư và bạn đang đến văn phòng chi nhánh Wells Fargo ở địa phương để gửi tờ séc trị giá 100 đô la.

  • Tình trạng tài khoản của bạn là số dư ngân hàng của bạn, thứ đang nằm ở một mức an toàn là $69.420.
  • Tất cả các giao dịch tài khoản từ khi thành lập cho đến nay đều được chứa trong lớp dữ liệu khả dụng, một cơ sở dữ liệu tập trung do Wells Fargo lưu trữ và bảo mật.
  • Khi ngân hàng xử lý séc của bạn, Wells Fargo tiến hành một quá trình chuyển đổi trạng thái chống lại các lớp dữ liệu sẵn có để cập nhật số dư của bạn đến $69.520.
  • Trạng thái “N+1” ($69.520) bây giờ đã được cập nhật trên ứng dụng di động Wells Fargo, ứng dụng web và các địa điểm chi nhánh khác của bạn. Có sự đồng thuận vì tất cả các cập nhật diễn ra trên cơ sở dữ liệu tập trung mà chỉ những người có thông tin xác thực mới có thể truy cập.

Bây giờ, theo thuật ngữ blockchain:

Cơ chế Đồng thuận

Sự đồng thuận xác định độ chính xác kiểu mẫu về dữ liệu được lưu trữ trên blockchain.

Trong các danh mục này, chúng tôi tìm thấy Proof of Work và Proof of Stake. Đó là những hệ thống nhằm xác định cách các khối được thêm vào chuỗi và cách người tham gia có thể đồng ý rằng các khối là chính xác. Với điều này, các blockchain có thể tiến triển theo thời gian mà không bị phân tách thành hàng triệu chuỗi khác nhau.

Tính thực thi

Tính thực thi của các blockchain là nơi trạng thái của blockchain được chuyển tiếp sang block tiếp theo.

Block N có một số trạng thái cụ thể, tượng trưng cho sự thay đổi của dữ liệu từ Khối N-1 (số dư tài khoản, mã hợp đồng, v.v. ). Sau đó, trình xác thực lấy một loạt các giao dịch từ mempool[1] và cập nhật trạng thái cho Block N bằng cách tạo Block N+1 từ việc sử dụng trạng thái của Block N và thay đổi nó theo các giao dịch đã được lấy ra từ mempool.


  1. Mempool là từ viết tắt của "memory" (bộ nhớ) và "pool" (bể). Đây là một cách để Bitcoin lưu lại những giao dịch chưa được xác nhận trước khi xác nhận chúng trên chuỗi khối. ↩︎

Các giao dịch được thực hiện khi trình xác thực tính toán trạng thái mới của block tiếp theo bằng cách sử dụng các giao dịch mempool đã chọn làm đầu vào cùng với các cơ chế đồng thuận.

Tính có sẵn của dữ liệu

Tính khả dụng của dữ liệu đề cập đến dữ liệu được lưu trữ trên mỗi nút[1] blockchain. Nếu có dữ liệu trên các nút, nó có sẵn cho bất kỳ ai sử dụng blockchain.


  1. Node (nút) được hiểu là một thiết bị trên một mạng blockchain, là yếu tố nền tảng cho phép công nghệ blockchain hoạt động và tồn tại. Các nút được phân bổ trong một mạng lưới rộng và thực hiện nhiều tác vụ khác nhau. ↩︎

Điều đó làm cho dữ liệu này trở nên rất quý giáđắt đỏ. Khi bạn thêm một số bit dữ liệu vào blockchain thì đồng thời bạn cũng đang thêm dữ liệu đó vào tất cả các máy tính đang chạy các nút cho chuỗi, hiện tại và mãi mãi. Mục đích của các blockchain là không thể thay đổi; có nghĩa là dữ liệu đã được lưu giữ bên trong các hệ thống này thực sự là loại dữ liệu có giá trị nhất mà nhân loại từng tạo ra.

Mọi người đều muốn dữ liệu (giao dịch) của họ là bất biến, vì vậy mọi người trả giá rất cao để truy cập các thuộc tính này, đó là lý do tại sao chúng ta thấy phí gas[1] rất cao trên Ethereum L1.


  1. Gas Fee (hay phí gas) là một loại phí giao dịch phải trả để giao dịch được thực hiện, trong đó, gas là đơn vị đo lường năng lượng máy tính cần dùng để thực hiện được một giao dịch cụ thể trên network. ↩︎

1.2 Monolithic Blockchain

Monolithic Blockchain là các blockchain cố gắng thực hiện cả ba điều, sự đồng thuận, tính thực thi và tính khả dụng của dữ liệu, tất cả đều ở cùng một vị trí: Trên L1. Về cơ bản, hầu hết các blockchain cho đến nay bao gồm cả Ethereum như hiện tại là một blockchain nguyên khối.

Vấn đề với các blockchain nguyên khối là chúng phải đối mặt với bộ ba bất khả thi của blockchain. Bởi vì cùng một layer phải chịu trách nhiệm cho cả ba thành phần - thứ tạo nên một blockchain đúng nghĩa 'là một blockchain', việc tối ưu hóa cho một thuộc tính của một blockchain sẽ làm hạn chế đối với các thuộc tính khác.

  • Muốn có thêm blockchain bằng cách tạo thời gian khối nhanh hơn và khối lớn hơn? Sau đó, giảm số lượng nút có thể theo kịp được tốc độ phát triển của chain. Việc làm đó sẽ khiến các máy tính chậm chạp trên thế giới không thể kìm hãm được tốc độ của chain.
  • Muốn giao dịch nhanh chóng? Giảm số lượng nút để tổng số máy tính thực sự cần thực hiện tính toán ít hơn. Bằng cách đó, chúng ta không có một loạt các máy tính dư thừa thực hiện tất cả các phép tính giống nhau.
  • Bạn muốn tối ưu hóa cho sự bảo mật và phân quyền? Giảm cung cấp không gian khối và giảm yêu cầu phần cứng nút, để mọi người đều có thể là người tham gia trong mạng lưới, tuy nhiên các giao dịch của bạn sẽ mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành.

Các blockchain nguyên khối đã giúp chúng ta tiến xa đến mức này nhưng hiện chúng đang dần đạt đến điểm giới hạn về quy mô. Kỷ nguyên của blockchain nguyên khối sắp kết thúc.

Kỷ nguyên của modular blockchain đang tới gần.

2. Modular Blockchain

Các modular blockchain[1] lấy ba thành phần mà các blockchain nguyên khối hiện đang chứa trên L1 và phân chia chúng. Cũng giống như phân công lao động, việc tách từng bộ phận cho phép chúng ta tối ưu hóa từng bộ phận và tạo ra một sản phẩm tốt hơn nhiều.


  1. Modular blockchain là blockchain chia sẻ các tác vụ cho nhiều mạng lưới được liên kết với nhau, giúp hiệu suất được tối ưu hơn đồng thời tăng khả năng mở rộng lên nhiều lần. ↩︎

2.1 Tính thực thi theo modular với rollup

Rollup có thể xử lý các lệnh giao dịch có quy mô nhanh hơn chuỗi chính! Rollup không làm ảnh hướng đến cơ chế đồng thuận và tính sẵn có của dữ liệu bằng cách tạo ra một môi trường thực hiện giao dịch tách biệt với Ethereum và xử lý các giao dịch trước khi thực hiện cập nhật trạng thái của L1.

Thời điểm một rollup được tiến hành, nó tạo một mật mã với Ethereum để đảm bảo nó sẽ tuân theo các quy tắc.

'Lời thề ban đầu' này của rollup đặt ra những giới hạn riêng của nó về cách quản lý các giao dịch (tức là, việc rollup cam kết hiển thị các minh chứng toán học rằng tất cả các giao dịch đều hợp pháp).

Được chứa bên trong rollup giao dịch mới khởi tạo này là khả năng cho phép bất kỳ người dùng nào rút tất cả tiền của họ khỏi quá trình rollup. Đây được coi như là 'cửa thoát hiểm', điều đó có nghĩa là khi một rollup 'bị hỏng, bạn có thể thoát ra bằng cửa thoát hiểm thông qua một giao dịch trên L1. Một rollup bị hỏng cũng giống như một chiếc thang cuốn bị hỏng; nó chỉ là trở thành một chiếc cầu thang.

Giới thiệu về Rollup cho newbie
Cách thức mà rollup thực sự hoạt động ra sao, chúng trông như thế nào và tại sao chúng lại khiến những người như tôi rất hào hứng thì chúng ta hãy cùng đào sâu.

Cầu nối giữa một rollup và Ethereum luôn tồn tại, bất kể rollup có đang trực tuyến và đang hoạt động hay không, đồng thời cho phép đảm bảo các thanh toán của Ethereum mở rộng đến các rollup trên đó.

Cây cầu này kết nối giữa tính bảo mật và khả năng phi tập trung hóa của Ethereum với môi trường nơi thực hiện giao dịch của rollup.

Các rollup gần như không tốn chi phí để duy trì và cần rất ít nút được yêu cầu hoạt động, ngoài ra chúng cũng không bị đặt gánh nặng bởi các cơ chế đồng thuận đắt tiền - thứ cần thiết để bảo mật. L1 của Ethereum trả tiền cho bảo mật và duy trì sự phi tập trung hóa, chính vì vậy rollup không cần phải làm như vậy. Một số rollup thậm chí có thể hoạt động hiệu quả như một máy chủ tập trung. Việc đổi mới rollup hơn nữa có thể làm cho chúng hoạt động với năng suất cao hơn cả một cơ sở dữ liệu tập trung.

2.2 Bảo mật module với POS Validators

Không còn chỉ là máy tính cụ thể nào phải chịu trách nhiệm về an ninh mạng. Giờ đây, tất cả các máy tính đều có thể phải chịu trách nhiệm về an ninh mạng. Bởi vì ETH có thể được đặt cọc trên bất kỳ máy tính đang có kết nối internet nào, điều này chính thức thể hiện giá trị của việc cung cấp bảo mật cho chính tài sản đó.

Thay vào đó, các yêu cầu về vốn để duy trì mạng PoW vật lý có thể được chuyển thành việc mua 'ASIC ảo' (PoS token), làm tăng hiệu quả sử dụng vốn của tài sản. Không giống như phần cứng vật lý, tài sản PoS không suy giảm theo thời gian.

Giảm chi phí kinh tế của việc chạy một nút xác thực xuống còn chi phí vốn (32 ETH) và một máy tính (chiếc máy bạn đang sử dụng!) làm tăng tổng số trình xác thực khả thi của một blockchain. Ngoài ra, các giao thức đặt cược phi tập trung như Lido hoặc Rocketpool cho phép bất kỳ số lượng ETH nào cũng có thể được gộp và đặt cọc, khiến giới hạn 32 là một con số tùy ý. Lợi tức bạn nhận được khi sở hữu 3,2 ETH so với 320 ETH hầu hết là như nhau và sẽ tiệm cận với mức tương đương theo thời gian.

Mạng lưới POS loại bỏ các yêu cầu phần cứng để xác thực chuỗi, làm cho thiết bị tiêu dùng trung bình đủ mạnh để xác thực chuỗi. Điều này tối ưu hóa kết nối giữa mạng và phần cứng.

Bằng cách giảm thiểu vai trò của phần cứng, bạn sẽ tối đa hóa khả năng tiếp cận của chuỗi và mở ra khả năng xác thực chuỗi cho số lượng người tối đa. POS giảm thiểu các yêu cầu xác thực mạng xuống mức tối thiểu tuyệt đối: Vốn.

Theo kết quả của POS, Ethereum hiện có hai nhóm đồng nhất, khi kết hợp với nhau chúng sẽ trở thành một nhóm bảo mật mạng mô-đun. Đây được gọi là 'nhóm xác thực' và đó là nơi Ethereum cung cấp nguồn bảo mật của nó. Các nhà phát triển Ethereum đã cho biết rằng họ mong muốn được thấy 10 triệu ETH được đặt vào Ethereum để được coi là “an toàn”. 10M/32ETH = 312.500 validators

Việc chi tiết hóa các bảo mật của Ethereum thành các trường hợp xác thực riêng lẻ cho phép các trường hợp này được chuỗi beacon hướng đến bất cứ nơi nào mà các tài nguyên này cần đến, mang lại cho Ethereum sự lựa chọn tốt nhất về cách phân bổ tài nguyên bảo mật của nó.

2.3 Tối đa hóa dữ liệu sẵn có: Sharding

Tất cả các blockchain đều có sẵn một nguồn cung cấp bảo mật nhất định cho nó. Sự an toàn đối với Bitcoin là nguồn cung cấp hàm băm SHA256 mà thế giới có thể tạo ra. Việc bảo mật cho POS Ethereum là cung cấp các trình xác thực Ethereum tồn tại trong validator pool.

Ethereum có một 'validator pool' gồm tất cả các validator Ethereum được lựa chọn ngẫu nhiên để xác thực một khối Ethereum. Khi nhiều validator trực tuyến hơn và cung cấp bảo mật của họ (mức 32 ETH để đảm bảo phải tuân theo các quy tắc) cho Ethereum, điều đó làm cho Ethereum trở nên an toàn hơn.

Khi bạn thêm sharding, nó cũng sẽ làm cho Ethereum có khả năng mở rộng hơn. Sharding cho phép 'sắp xếp lại quyền bảo mật' trên một số lượng chuỗi cao hơn, thay vì để tất cả bảo mật của hệ thống chỉ tập trung hoàn toàn vào một chuỗi duy nhất.

Việc có 300.000 validator (300 nghìn trường hợp của 32 ETH được đặt cọc) và tất cả đều tham gia bảo mật một monolithic chain khiến cho mức bảo mật bị dư thừa và làm sự phân bổ tài nguyên không hiệu quả. Bằng cách trải rộng các trình xác thực trên nhiều chuỗi, L1 của Ethereum có thể mở rộng quy mô bằng việc tạo ra 64 Ethereum từ việc có ~4.500 trình xác thực trên mỗi chuỗi.

Điều này làm cho khả năng mở rộng của Ethereum có sự kết nối tốt hơn với tính bảo mật của nó. Trong khi một monolithic blockchain tiếp cận các giới hạn được quyết định bởi bộ ba vấn đề của blockchain, một blockchain phân mảnh đảo ngược mối quan hệ giữa quy mô và bảo mật; nó biến các yếu tố hạn chế thành các yếu tố tăng trưởng của nó.

Việc có 64 shard ở thời điểm đầu của quá trình sharding sẽ không có nghĩa là chúng ta đang tăng dung lượng của Ethereum lên 64 lần. Thay vào đó, số lượng 'Ethereum chain' mà chúng ta có sẽ tăng lên 64 lần, nhưng kích thước của mỗi chain sẽ lớn hơn ~ ⅓, vì vậy kích thước sẽ tăng khoảng 18 lần, không phải là 64 lần.

Tuy nhiên, như đã nêu ở trên, khi phần cứng vật lý được cải thiện và validator pool của Ethereum tăng lên, chúng ta có thể tăng cả quy mô và nguồn cung cấp các shard, điều này là quan trọng đối với sự liên kết giữa khả năng mở rộng của Ethereum và Định luật Moore.

3. Sự hợp lực giữa các module được tối ưu hóa

Vẻ đẹp của thiết kế module là sự tối ưu hóa của mỗi mô-đun sẽ khuếch đại sự tối ưu hóa trong các module khác.

Có ba hợp lực:

  1. Bảo mật của POS mô-đun có thể sắp xếp lại các validator trên nhiều phân đoạn hơn, bởi vì việc có nhiều validator trực tuyến hơn nên có thể hỗ trợ bổ sung dữ liệu một cách an toàn. Phân quyền nhiều hơn ➡ Quy mô hơn.
  2. Các shard được thêm vào trên L1 có tác động khuếch đại lên khả năng thực thi của các rollup. Rollup có thể nén nhiều dữ liệu trước khi nó thêm nó vào phân đoạn L1, vì vậy bất kỳ không gian bổ sung nào thì các shard đó có đều có tác động lớn hơn đến dung lượng có sẵn trên rollup. Quy mô hơn ➡ thực hiện nhanh hơn.
  3. Càng nhiều hoạt động giao dịch ròng diễn ra trên các rollup thì tổng số phí được trả cho việc mua không gian khối L1 càng nhiều. Việc thêm tổng số phí trả cho không gian khối sẽ tăng doanh thu trả cho các validator L1. Càng nhiều validator được trả tiền thì càng có nhiều động lực để tạo ra thêm những validator. Việc thêm nhiều validator hơn vào L1 sẽ bổ sung các tài nguyên tính toán có thể tạo ra nhiều shard hơn. Nhiều shard hơn ư ? Hay xem bước 2.

3.1 Quy mô hơn, Thực thi nhanh hơn

Bằng cách sharding Ethereum thành 64 lớp dữ liệu sẵn có khác nhau, chúng ta tạo ra nhiều không gian hơn để rollup triển khai hàng nghìn các nhóm bao gồm hàng nghìn giao dịch. Việc Sharding L1 đã có tác động lớn hơn đến khả năng rollup mở rộng trên L2. Bởi vì rollup nén các giao dịch thành các gói nhỏ gọn, bất kỳ sự gia tăng dữ liệu nào trên L1 đều sẽ tạo ra nhiều không gian hơn trên L2.

Đây là nơi Ethereum có khả năng thực hiện các giao dịch mang tính vi mô. Sharded Ethereum là nơi mà các cửa sổ mở ra cho tất cả các rollup. Việc tăng số lượng không gian block có sẵn để tiêu thụ tạo ra việc giảm phí lớn đối với các lần rollup trên các shard.

Các giao dịch rollup được nén nay đã có nhiều nguồn cung cấp không gian khối khả dụng hơn. Rollup phân bổ chi phí giao dịch L1 của họ cho tất cả người dùng của rollup. Nếu chi phí để triển khai một gói giao dịch lớn cho Ethereum là 1 ETH, thì 1 ETH đó sẽ lan rộng ra cho hàng nghìn giao dịch viên trong gói. Khi chúng ta có thêm 64 lần shard để triển khai các giao dịch, thì chi phí cho mỗi giao dịch sẽ giảm theo nhiều đơn đặt hàng lớn, tăng số lượng người dùng được khấu hao.

Sự kết hợp giữa các shard và rollup cho phép các tài nguyên tính toán trở thành tài sản của mạng lưới, thay vì trở thành nợ phải trả. Nhiều máy tính hơn có thể đóng góp tài nguyên của chúng vào mạng và sử dụng những tài nguyên đó một cách hiệu quả, bất kể máy tính có sẵn bao nhiêu tài nguyên để cung cấp. Một máy tính có thể là một trình xác thực rollup và giúp nén dữ liệu được gửi đến L1 hoặc nó có thể đóng góp tài nguyên của mình vào nhóm validator L1 và giúp tạo ra nhiều shard hơn.

3.2 Phát triển bền vững kinh tế

Modular Ethereum là một Ethereum mang tính bền vững về mặt kinh tế. Đây chính là ngành kinh tế học tiền điện tử và chúng ta cần phải thêm các quyền về kinh tế vào tiền mã hóa của mình.

Trong kinh tế học, định luật Gresham là một nguyên tắc tiền tệ nói rằng "tiền xấu đuổi tiền tốt". Khi ai đó được tặng hai khoản tiền khác nhau, họ sẽ tiết kiệm khoản tiền có khả năng giữ giá và tiêu cái bị mất giá.

Với tiền pháp định (fiat currency), chúng tôi thấy mọi người chuyển sang loại tiền tệ đang mất giá ít nhất, hay còn gọi là đô la. Nhưng giờ đây, trong thế giới của 'kinh tế học khoa học viễn tưởng', chúng ta có thể mơ những giấc mơ lớn hơn không chỉ dừng lại ở 'không lạm phát” . Thay vào đó, trong thế giới crypto, chúng ta sẽ hỏi "loại tiền nào đang có khả năng tăng giá trị nhiều nhất?"

Các nhà khai thác bitcoin rất vui mừng về BTC như là loại tiền vốn hóa cứng đầu tiên được hứa hẹn sẽ duy trì sức mua của nó bằng cách miễn nhiễm với việc phát hành thêm. Bitcoin hứa hẹn sẽ trở nên khan hiếm hơn khi nền kinh tế phát triển xung quanh nó. Cùng một nguồn cung BTC, nhưng bên trong một nền kinh tế lớn hơn thì BTC lại tương đối khan hiếm hơn.

3.3 Phí giao dịch = Phí bảo hiểm tiền tệ

Nếu chuyển luật Greshmans thành các điều khoản kinh tế đối với tiền điện tử thì chúng ta sẽ hiểu rằng: Hệ thống cần thu nhiều phí giao dịch hơn những gì được cấp cho validator.

Các hệ thống kinh tế tiền điện tử thanh toán cho các nhà cung cấp bảo mật của họ thông qua phát hànhphí. Việc sử dụng doanh thu phí để thanh toán cho chứng khoán sẽ thay thế số lượng phát hành được yêu cầu. Blockchain càng thu nhiều phí thì càng ít cần phải tăng cường nguồn cung thông qua việc phát hành.

Thu thập nhiều hơn, phát hành ít hơn.

Đây là vấn đề với việc mở rộng quy mô một monolithic blockchain. Nhiều blockchain hứa hẹn mức phí thấp và thông lượng cao. Bằng cách cam kết điều này, họ đồng thời cũng phải cam kết không bao giờ tạo ra một thị trường phí có ý nghĩa. Nếu bạn muốn không gian block rẻ, bạn không được dựa vào phí giao dịch để trả cho việc bảo mật.

Do đó, bạn phải dựa vào việc phát hành, mà theo thuật ngữ của Gresham, đó được gọi là “tiền xấu”.

Một đoạn trích từ Polynya:

Hãy xem xét Polygon PoS và Solana. Polygon PoS đang thu khoảng 50.000 đô la/ngày phí giao dịch, hoặc 18 triệu đô la hàng năm. Trong khi đó, nó phân phối hơn 400 triệu đô la tiền thưởng lạm phát. Đó là mức lỗ ròng đáng kinh ngạc là 95%. Đối với Solana, nó chỉ thu về ~ 10 nghìn đô la/ngày trong thời gian dài nhất, nhưng với sự cuồng đầu cơ, nó đã tăng đáng kể lên ~ 100 nghìn đô la/ngày, hoặc 36,5 triệu đô la hàng năm. Solana đang đưa ra phần thưởng lạm phát thậm chí còn đáng kinh ngạc hơn 4 tỷ đô la, dẫn đến mức lỗ ròng là 99,2%. Như một thử nghiệm, Solana sẽ cần thực hiện tới 154.000 TPS với mức phí giao dịch hiện tại chỉ để hòa vốn - điều này hoàn toàn không thể với phần cứng và băng thông hiện tại. Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn là những giao dịch bổ sung đó không miễn phí - chúng yêu cầu phải thêm băng thông lớn hơn, nói chung thì vẫn cần phải có các hệ thống cao hơn.

Đặc điểm quan trọng của tính bền vững kinh tế là nó kết hợp theo cả hai hướng.

Layer 1 bị ràng buộc thiết lập một thị trường phí mạnh. Bằng cách giới hạn số lượng không gian khối có sẵn, bạn tăng đồng thời cả khả năng phân cấp (bằng cách giảm yêu cầu phần cứng của các nút tham gia) và phí thu được (bằng cách hạn chế việc cung cấp không gian khối có sẵn).

Không gian khối khan hiếm tạo ra doanh thu phí cao, điều này tạo ra tỷ lệ ETH bị đốt cao, điều này làm cho ETH càng khan hiếm hơn, khiến nó trở nên có giá trị hơn.

Đồng tiền càng có giá trị thì càng ít cần phát hành để đạt được tác động tương tự. Do đó, sẽ cần ít tiền hơn cho việc bảo mật khi giá trị của đồng tiền cao. Theo mô hình bảo mật giá rẻ, bạn giảm thêm lượng phát hành ròng mới vì đơn giản là bạn đang phát hành ít hơn, và điều này càng làm tăng thêm sự khan hiếm và giá trị của tài sản.

Các chain mà quảng cáo một môi trường phí rẻ thường không thể thu bất kỳ doanh thu phí có ý nghĩa nào (hoặc nếu không thì sẽ có phí) . Nếu bạn không thể thu phí, bạn phải trả tiền bảo mật thông qua phát hành. Nếu bạn thanh toán cho việc bảo mật thông qua phát hành, thì đồng tiền sẽ bị lạm phát và giảm dần giá trị theo thời gian.

Theo thời gian, việc trở thành một loại tiền tệ bị lạm phát đang tạo thêm nguồn cung cho tiền tệ và làm giảm giá trị của nó. Giá trị giảm có nghĩa là bạn phải phát hành nhiều hơn để trả tiền cho việc bảo mật. Việc phát hành thêm nguồn cung làm phát sẽ làm phá giá tiền, đồng thời thể hiện các giai đoạn bắt đầu của vòng xoáy lạm phát.

Nếu bạn tăng cường thông lượng của chuỗi của mình, bạn sẽ làm tăng sự lạm phát của tài sản. Đáng buồn thay, khi bạn cũng tăng thông lượng chuỗi của mình, bạn sẽ giảm khả năng trở thành validator của một người bình thường.

Điều này tách cộng đồng bao quanh blockchain này thành hai lớp công dân; những người có phương tiện để xác thực chuỗi và có quyền đối với việc thu nhập từ phát hành tiền và những người không và chỉ có thể mua những gì mà validator bán cho họ.

4. Kết hợp tất cả lại

Ethereum có sự hạn chế đối với L1 trong việc tối ưu hóa để tăng cường tính phân cấpbảo mật hiệu quả. L1 bị ràng buộc về không gian khối này sẽ tạo ra một thị trường phí đắt đỏ và phải bổ sung phí bảo hiểm tiền tệ vào ETH.

Sharding tăng không gian khối L1 có sẵn như một chức năng của quy mô bảo mật của Ethereum. Khi nhóm các validator của Ethereum ngày càng lớn, số lượng các shard khả thi cũng tăng lên, làm cho Ethereum có khả năng mở rộng hơn khi nó phát triển theo tính phi tập trung.

Rollup tạo ra các môi trường chấp hành không bị giới hạn để gói các giao dịch và nén chúng thành một gói dữ liệu nhỏ nhất có thể. Điều này mở ra các loại hoạt động kinh tế mới và cho phép một nền kinh tế giá rẻ đồng thời cũng khiến chúng phát triển một cách phồn vinh , làm tăng hoạt động kinh tế ròng thanh toán trên L1. Khi hoạt động kinh tế phát triển nhiều hơn trên các rollup, phí tổng hợp giảm xuống khi chúng được phân bổ cho nhiều người tham gia hơn. Khi nhiều phân đoạn được thêm vào Ethereum và khi các phân đoạn trở nên lớn hơn, phí tổng hợp tiếp tục thấp hơn như một chức năng của Định luật Moore.

Việc mở khóa khả năng tồn tại của phản ứng vi mô làm tăng tổng số hoạt động kinh tế khả thi có thể được hỗ trợ, cho phép các đơn đặt hàng có hoạt động kinh tế ròng với quy mô lớn hơn được thực hiện, tất cả được chuyển xuống L1 Ethereum thông qua một loạt các nén và được cam kết trên nhiều lớp khác nhau. Sự sụp đổ đối với thị trường phí cạnh tranh trên L1 và đốt cháy ETH như một chức năng của việc tổng hoạt động kinh tế.

Vẻ đẹp của thiết kế module là các tối ưu hóa cho mỗi module sẽ khuếch đại các tối ưu hóa cho các module khác.

  • Tăng cường tính phi tập trung thông qua PoS làm tăng số lượng shard đoạn được thêm vào Ethereum
  • Nhiều shard hơn trên Ethereum L1 bổ sung thêm các đơn đặt hàng có quy mô lớn hơn vào rollup của L2
  • Quy mô lớn hơn khi rollup của L2 mở ra hoạt động kinh tế khả thi mới, điều này cuối cùng bổ sung thêm nhiều khoản phí tập thể được trả bởi các lần rollup trên L1.
  • Nhiều phí tập thể hơn được trả cho L1 làm tăng động cơ chạy trình xác thực, làm cho nhóm trình xác thực lớn hơn, cho phép tạo nhiều shard hơn.
  • Lặp lại.

4.1 Các Monolithic Blockchain được tối ưu hóa tính thực thi

Mỗi thị trường tăng giá có một nhóm chuỗi mới chọn hy sinh tính phi tập trung để tối ưu hóa cho thuộc tính thực thi của một chuỗi khối. Họ tăng kích thước khối và hạn chế các nút để sự nổi lên của thị trường tăng giá có thể tìm được một nơi với mức phí rẻ.

Trong các thị trường tăng giá, Ethereum và Bitcoin trở nên cực kỳ tắc nghẽn, bởi vì chúng đã được tối ưu hóa để phân cấp, mang lại tính hợp pháp cho các chuỗi được tối ưu hóa cho thuộc tính đối lập: Thực hiện giao dịch.

Nếu thay vào đó, blockchain nguyên khối được tối ưu hóa việc thực thi này tự cuộn lại thành một L2 trên một chuỗi L1 khác, nó thực sự có thể được tối ưu hóa hơn nữa để thực thi, trong khi không phải đối phó với các yếu tố hạn chế về bảo mật và phân quyền. Tài sản L1 không còn cần phải phát hành để thanh toán cho chứng khoán nữa, vì chứng khoán có nguồn gốc từ L1.

Tất cả các chain như Solana, Binance Smart Chain, Avalanche và Polygon đều có thể cần phải tự 'roll up ' để thúc đẩy tính bền vững lâu dài cho mã thông báo của họ và trên thực tế việc càng sớm tự tung ra, tài sản gốc của họ càng trở nên khan hiếm hơn.

Trích lời của Polyna:

Tôi đã từng nghĩ đây là một cách tiếp cận thực dụng nhất, nhưng giờ tôi cho rằng có quá nhiều vốn và sự kiêu ngạo đã được đầu tư vào các dự án blockchain để họ có thể sớm áp dụng phương pháp chỉ rollup này. Mặc dù vậy, người làm được sẽ là người đi tiên phong và đạt được thành tựu to lớn.

4.2 Kết luận mang tính logic

Thế giới crypto đầy rẫy các nhóm chủ nghĩa và chính trị. Các tuyên bố được nói bởi một người trong crypto là do người đó đến từ một nhóm nào bị ảnh hưởng. Những khuyến khích và động lực được thúc đẩy bởi niềm tin sẵn có và những thành kiến.

Rất may, code và toán học không bị ảnh hưởng bởi tất cả những thứ này. Toàn bộ bài viết trên có thể được viết lại mà không sử dụng từ 'Ethereum', và thay vào đó có thể là một lộ trình bất khả tri cho việc tối ưu hóa chung chung đối với modular blockchain.

Trên thực tế, kiến ​​trúc này không được thực thi bởi Ethereum. Bản tổng hợp không chỉ là một thứ Ethereum; Tezos cũng đang áp dụng một lộ trình tập trung vào rollup. NEAR cũng đang thiết kế để cung cấp dữ liệu được shard. Celestia đang xây dựng một lớp DA & bảo mật dành riêng cho việc rollup.

Đó là kết luận hợp lý nhất cho sự phát triển của công nghệ blockchain. Lý do duy nhất tại sao nó được 'liên kết chính trị' với Ethereum là Ethereum là hệ sinh thái duy nhất tài trợ đầy đủ cho việc nghiên cứu và phát triển thứ có thể đưa chúng ta đến thời điểm này.

Theo thời gian, chúng ta sẽ thấy tất cả các blockchain L1 hoặc biến thành cấu trúc thiết kế mô-đun (ràng buộc không gian khối L1, đẩy tính thực thi để rollup, tăng số lượng nút) và sự cạnh tranh trong thế giới tiền không có chủ quyền toàn cầu hoặc họ sẽ loại bỏ sự đồng thuận và dữ liệu, thay vào đó chỉ cần chuyển vào môi trường tính thực thi của chúng sang một chuỗi phi tập trung hơn.

Thiết kế modular blockchain cũng minh họa cho sự cần thiết của việc trân trọng tính phân quyền như là một đặc tính quan trọng của các blockchain cho phép tất cả các tính năng còn lại. Ethereum đã giải quyết được bộ ba vấn đề về khả năng mở rộng bằng cách tăng cường phân cấp chứ không phải hy sinh nó. Chỉ bằng cách tối ưu hóa cho phân quyền, bạn mới có thể nhận được những lợi ích của mô đun hóa thứ được thể hiện ở trên.

Nếu bạn có sự phân quyền, bạn có thể có bất cứ thứ gì.

Đừng quên đăng ký Otis Report - Nơi cung cấp và cập nhật nhanh nhất mọi thông tin vĩ mô và phương pháp đầu tư tăng trưởng với giá trị vượt thời gian.

Hãy đăng ký và tham gia các nhóm, channel của Otis Report dưới đây để được thảo luận cùng các chuyên gia và nhiều Otiser khác:

Bạn đã đăng ký thành công Otis Report
Xác minh thành công! Giờ đây, bạn đã có toàn quyền truy cập vào tất cả nội dung cao cấp của Otis Report.
Lỗi! Không thể đăng ký. Liên kết không hợp lệ.
Chào mừng trở lại! Bạn đã đăng nhập thành công.
Lỗi! Không thể đăng nhập. Vui lòng thử lại.
Thành công! Tài khoản của bạn đã được kích hoạt hoàn toàn, bây giờ bạn có quyền truy cập vào tất cả nội dung.
Lỗi! Kiểm tra Stripe thất bại.
Thành công! Thông tin thanh toán của bạn đã được cập nhật.
Lỗi! Cập nhật thông tin thanh toán không thành công.